Định nghĩa về gây mê

Định nghĩa của máy gây mê là làm cho cơ thể hoặc bộ phận của bệnh nhân tạm thời mất đi cảm giác đau đớn. Định nghĩa đầy đủ là làm cho cơ thể hoặc một bộ phận của bệnh nhân mất ý thức và phản xạ tạm thời bằng mọi cách, chấp nhận điều trị phẫu thuật một cách suôn sẻ và khôi phục nhanh chóng và hoàn toàn trực giác và phản xạ ban đầu sau khi phẫu thuật.

Gây mê được chia thành gây mê toàn thân và không gây mê toàn thân (gây tê tại chỗ).

Gây mê toàn thân có tính năng ức chế não, mất ý thức hoàn toàn, bệnh nhân không những không còn cảm giác đau đớn, thậm chí còn sợ hãi, mệt mỏi và khó chịu, và bệnh nhân không có bất kỳ phản xạ tự nguyện hay không tự nguyện nào, tức là bệnh nhân trong quá trình phẫu thuật, phẫu thuật sẽ không có bất kỳ phản ứng, tác động nào. Do bệnh nhân không có nhận thức và phản xạ tương ứng với hoạt động nên đôi khi do đó bác sĩ không thể giao tiếp với bệnh nhân, bệnh nhân khó có thể tự duy trì chức năng sinh lý của mình, điều này cũng sẽ mang đến một mức độ rủi ro nhất định cho bệnh nhân.

Phương pháp gây mê toàn thân có luật gây mê hít và luật gây mê tiêm nói chung có hai loại.

Gây mê qua đường hô hấp bao gồm việc hít một hỗn hợp khí (để đảm bảo nồng độ oxy nhất định) để gây mê toàn thân cho bệnh nhân.

Gây mê dạng tiêm là việc tiêm thuốc mê dạng lỏng vào cơ thể để gây mê toàn thân.

Thuốc mê đường hô hấp và thuốc mê tiêm, thuốc mê đường hô hấp tương đối ưu việt hơn một số, bởi vì trong quá trình gây mê đường hô hấp, thuốc mê hỗn hợp khí hít vào cũng có thở ra, bác sĩ gây mê có thể điều chỉnh nồng độ thuốc mê hỗn hợp khí bất cứ lúc nào, nhằm thay đổi độ sâu của thuốc mê. Khi tiêm thuốc tê không dễ thay đổi độ sâu của thuốc tê. Nếu gây tê quá sâu hoặc quá nông, đôi khi ở một mức độ nào đó, không chỉ ảnh hưởng đến ca mổ mà còn dễ gây nguy hiểm đến tính mạng. Vì vậy hiện nay, phương pháp gây mê toàn thân được sử dụng tại các bệnh viện chủ yếu là gây mê qua đường hô hấp.


Thời gian đăng: Tháng 4-13-2021